Lần lượt trong tháng 2, tháng 3 và đầu tháng 4 vừa rồi, Netflix đã hoàn tất đưa 21 bộ anime của Studio Ghibli đến với 190 quốc gia trên thế giới, bao gồm có Việt Nam. 

Phim Ghibli phù hợp với đa dạng độ tuổi bởi sự kì ảo trong trẻo và sự rộng mở về mặt hàm nghĩa. Mỗi người ở độ tuổi khác nhau có thể nhìn nhận bộ phim theo nhiều chiều hướng khác nhau. Tuy gợi ý tốt nhất cho bạn là nên xem tất cả các phim của Ghibli khi có thời gian,  nếu cảm thấy không biết bắt đầu từ đâu thì dưới đây là gợi ý top 5 bộ phim Ghibli nổi bật nhất cho các “ma mới”: 

1. Spirited Away (Vùng đất linh hồn)

Dành cho: Những ai yêu thích thần thoại cùng các yếu tố siêu thực và tâm linh. 

Ảnh: mentalfloss

Tóm tắt nội dung: Chihiro và gia đình cô bé vô tình lạc vào vùng đất lạ khi đang trên đường chuyển tới nhà mới. Cha mẹ cô bị thu hút vào một gian hàng thực phẩm và không thể ngừng ăn những món ăn hấp dẫn cho đến khi bị biến thành lợn. Chihiro sau đó phải tìm cách để cứu bố mẹ mình cũng như trở về thế giới thực. Khi các linh hồn và các vị thần kì quái xuất hiện vào lúc hoàng hôn, Chihiro đã quyết định theo họ vào ẩn số.

Thành tích của phim: Bộ phim là niềm tự hào của điện ảnh Nhật nói riêng và Châu Á nói chung khi lần đầu giành được giải Oscar danh giá cho Phim hoạt hình xuất sắc nhất vào năm 2003, điều mà tới nay vẫn chưa có một bộ phim hoạt hình châu Á thứ hai đạt được. Tại phòng vé vào thời điểm ra mắt, Spirited Away trở thành phim điện ảnh hoạt hình thành công nhất trong lịch sử nước này này khi thu về hơn 347 triệu USD trên toàn thế giới. Phim vượt qua Titanic (lúc bấy giờ là phim điện ảnh có doanh thu cao nhất thế giới) tại thị trường phòng vé Nhật Bản để giành vị trí phim điện ảnh có doanh thu cao nhất vào thời điểm công chiếu và cao thứ hai trong lịch sử quốc gia này với tổng doanh thu là 30,8 tỷ yên.

Nét đặc biệt: Spirited Away vẽ nên câu chuyện kì ảo bậc nhất trong các tác phẩm của Ghibli. Hình ảnh thế giới linh hồn trong phim được mở ra với rất nhiều nhân vật kì lạ, quái đản, thậm chí rùng rợn. Khối lượng hình ảnh biểu tượng ẩn dụ khổng lồ được xâu chuỗi với nhau để trở thành một câu chuyện có nghĩa. Cốt truyện từ đầu đến cuối đều vô cùng khó đoán, bạn chỉ có thể để các tình tiết kéo mình đi chứ khó mà đoán trước được. Từng phân đoạn xuất hiện trong bộ phim đều mang ý nghĩa ẩn dụ và nội hàm rất lớn, cùng với đó chứa đựng nét đặc trưng mang đậm dấu ấn văn hóa của Nhật Bản như nhà tắm công cộng, trang phục truyền thống kimono, các điệu nhảy truyền thống, cách bài trí phòng ốc, các món ăn, bát đĩa, tranh ảnh, kiểu tóc,…

Vì một số hình ảnh kỳ dị, rùng rợn mà Spirited Away không thực sự phù hợp với các khán giả nhỏ tuổi, tuy nhiên nhóm khán giả lớn hơn (từ 14-15 trở lên) chắc chắn sẽ bị cuốn hút bởi cả tầng nghĩa nổi và tầng nghĩa ẩn tàng của bộ phim này.  

2. Mononoke Princess (Công chúa Mononoke) 

Dành cho: Những ai hứng thú với đề tài thiên nhiên và con người.

Ảnh: carmennguyen

Tóm tắt nội dung: Câu chuyện theo chân cuộc hành trình của hoàng tử cuối cùng của bộ lạc Emishi – Ashitaka và những nỗ lực của anh để mang lại hòa bình trong cuộc chiến giữa những người khai thác rừng ở Pháo đài Sắt với những sinh vật thần thánh sống trong khu rừng xung quanh pháo đài. Để rồi sau cùng anh hiểu ra cuộc chiến này không chỉ có thắng và thua, tốt và xấu, mà điều quan trọng nhất vẫn là ở nỗ lực cân bằng và cùng tồn tại giữa con người và thiên nhiên.

Thành tích của phim: Mononoke Princess là bộ phim thu về lợi nhuận số một trên thị trường Nhật năm 1997, tổng doanh thu từ các kênh phân phối lên đến 11,3 tỷ yên. Bộ phim còn được chọn làm đề cử phim Nhật cho giải Oscar cho phim nước nước ngoài hay nhất trong năm đó cũng như nhận được nhiều đánh giá cao từ các nhà phê bình. 

Nét đặc biệt: Bộ phim này hoàn toàn không mang màu sắc tươi sáng, dễ chịu thường thấy ở Ghibli, việc khai thác cuộc chiến giữa thiên nhiên và con người khiến cho Mononoke có phần dữ dội và tàn khốc. Bộ phim được đạo diễn Miyazaki chia sẻ là “một sự mạo hiểm” nhằm đem tới góc nhìn hiện thực về thế giới không chỉ có niềm vui và hạnh phúc: “Làm sao ta có thể giả vờ rằng bản thân đang hạnh phúc khi thế giới ngoài kia không như vậy?”. Dù bộ phim là tiếng nói bảo vệ môi trường sinh thái, phim không nghiêng về một bên nào để chỉ trích phía còn lại. Phần lớn thời gian xem, khán giả có thể tự cảm nhận cũng như có đánh giá riêng về mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người. 

3. Howl’s moving castle (Lâu đài di động của Howl) 

Dành cho: Những ai yêu thích câu chuyện cổ tích phiêu lưu.

Ảnh: hydepark

Tóm tắt nội dung: Câu chuyện xoay quanh hai nhân vật chính là Sophie, một cô thợ làm mũ và chàng trai phù thủy điển trai tên Howl. Howl đã giúp đỡ Sophie khi cô bị trêu ghẹo bởi hai người lính canh trên đường đến thăm em gái. Nhưng mối liên hệ này làm Sophie rơi vào tầm ngắm của phù thủy vùng đất Chết, người sau đó đã ra lệnh cho tay sai của mụ tới ếm lời nguyền và khiến cô trở nên già nua. Trên đường đi tìm cách xóa bỏ lời nguyền ấy, Sophie tìm ra tòa lâu đài di động của Howl và nhờ thế chuyến hành trình của cô có thêm những người đồng hành mới.  

Thành tích của phim: Bộ phim đã thu về khoảng 231,7 triệu USD trên toàn thế giới để trở thành một trong những phim thương mại Nhật thành công nhất trong lịch sử. Howl’s moving castle xuất hiện trong danh sách top 10 phim hay nhất năm 2005 của rất nhiều các tờ báo lớn như Los Angeles Times, USA Today, The Onion… Đồng thời phim đã nhận được 11 giải thưởng lớn nhỏ ở các hạng mục Sản xuất, Lồng tiếng, Phim hoạt hình xuất sắc nhất, Nhạc phim xuất sắc nhất trong những lễ trao giải chuyên môn trong nước và quốc tế. 

Nét đặc biệt: Cùng với những nét vẽ trau chuốt, Howl’s moving castle là minh chứng kỹ thuật xử lý đồ hoạ xuất sắc của Ghibli, điển hình là phân cảnh căn phòng phù thủy trong phim. Từng chuyển động của nhân vật trong phim đều mượt mà và chân thực, bối cảnh được dựng công phu đế từng chi tiết đồ vật, nghiên cứu từng ý nghĩa hoa văn và đặc điểm màu sắc. 

Ảnh: tinanime

Bộ phim được biên kịch và đạo diễn bởi Miyazaki Hayao của Studio Ghibli nhưng có dựa trên một tiểu thuyết cùng tên của Diana Wynne Jones. Vì vậy mà không khí trong phim có sự đan xen giữa phương Tây và phương Đông. Nhưng thay vì tập trung vào tâm lí nhân vật và cuộc phiêu lưu của họ như trong truyện, thì khi dựng phim, đạo diễn Miyazaki chú trọng vào lý tưởng vì hòa bình nhiều hơn, đúng như những gì ông luôn coi trọng.  

4. My Neighbor Totoro (Hàng xóm tốt bụng Totoro) 

Dành cho: Những ai yêu thích các nhân vật tưởng tượng dễ thương. 

Ảnh: moveek

Tóm tắt nội dung: Bộ phim theo chân hai chị em Satsuki và Mei cùng bố trở về vùng nông thôn sinh sống. Trong một lần rong chơi ở khu rừng gần nhà, Mei đã tình cờ gặp gỡ một con thú khổng lồ – linh thú của khu rừng. Cô bé đặt tên cho người bạn mới này là Totoro theo tên con thú trong cuốn sách ảnh yêu thích. Cuối cùng vì mệt nên Mei dần ngủ thiếp đi, khi cô bé tỉnh lại thì Totoro đã biến mất. Những lần gặp gỡ kì lạ như thế tiếp diễn nhiều lần nữa giữa Satsuki, Mei và Totoro. Từ đó những cuộc phiêu lưu kì thú của hai chị em cùng với “hàng xóm tốt bụng” Totoro bắt đầu. 

Thành tích của phim: Bộ phim dành được tổng cộng 5 giải thưởng chuyên môn (4 giải trong nước và một giải quốc tế) cho hạng mục Phim xuất sắc nhất. My Neighbor Totoro được giới phê bình đánh giá cao, xếp thứ 41 trong “100 bộ phim hay nhất thế giới điện ảnh” của tạp chí Empire năm 2010, xếp hạng 1 trong nhiều danh sách khác của Sight & Sound (tạp chí của Viện hàn lâm Anh quốc) hay Time Out. 

Vào dịp kỉ niệm 30 năm ra mắt (năm 2018), My Neighbor Totoro đã chính thức ra rạp tại Trung Quốc và thu về doanh thu khủng lên tới hơn 12,9 triệu USD chỉ sau 3 ngày công chiếu. 

Nét đặc biệt: Sự yêu mến đối với bộ phim một phần có được nhờ sức hút từ nhân vật Totoro, thậm chí Ghibli Studio cũng đã lấy luôn người bạn đáng yêu này làm linh vật đại diện cho thương hiệu của mình. My neighbor Totoro ra đời đúng với tiêu chí của hãng sản xuất phim Ghibli với tiết tấu nhẹ nhàng, dễ đi vào lòng người. Có thể nói, bộ phim như một đặc quyền dành riêng cho trẻ em vì ở đó Miyazaki đã vẽ ra một thế giới khác đầy phép màu mà ở đó chỉ có đôi mắt trẻ thơ mới nhìn thấy được. Với đối tượng khán giả lớn tuổi hơn, bộ phim như dành cho chính “những đứa trẻ bên trong” của chúng ta, khi mà một cuộc sống bị cuốn theo guồng quay công việc, bị ảnh hưởng bởi công nghệ hiện đại có thể khiến chúng ta lãng quên điều đó.

Âm nhạc là một trong những thành công quan trọng khác của My Neighbor Totoro. Xuyên suốt các cảnh phim, từng chi tiết âm thanh tinh tế như như tiếng nước chảy, tiếng bước chân trên cánh đồng, tiếng ve kêu xa xa hay âm thanh từng giọt mưa rơi,..đã khiến cho bức tranh đồng quê yên bình trở nên vô cùng sống động. Đan xen với đó là loạt soundtrack tạo được tiếng vang lớn, đặc biệt với bài hát chủ đề Path of the wind, tất cả đều là sáng tác của nhà soạn nhạc thiên tài Hisaishi Joe. 

5. Kiki’s delivery service (Dịch vụ vận chuyển Kiki) 

Dành cho: Những ai đang ấp ủ ước mơ và mong muốn được truyền cảm hứng.

Ảnh: theguardian

Tóm tắt nội dung: Bộ phim kể về phù thuỷ thực tập Kiki khi đã đủ tuổi để rời gia đình và đến một nơi khác, nơi cô bé phải sống một mình trong vòng một năm để có thể trở thành một phù thuỷ thực thụ. Kiki khởi hành cùng chú mèo đen Jiji tới thành phố cảng Koriko. Tại đây cô bé đã thuê gác mái của một cửa tiệm bánh mì để sống, sau đó tận dụng khả năng bay của mình để mở “Dịch vụ giao hàng phù thủy”, nhận chuyển phát hàng hóa khắp thành phố và các vùng lân cận. Khoảng thời gian này, bên cạnh việc học cách trưởng thành và tự lập, Kiki cũng bắt đầu những mối quan hệ với bạn bè xung quanh và dần học được những bài học quý giá.

Thành tích của phim: Bộ phim có doanh thu hơn 2 tỷ yên trong lần đầu công chiếu vào năm 1989, trở thành một thành công lớn về doanh thu và là bộ phim doanh thu cao nhất tại Nhật Bản trong năm này. Phim cũng đã tham gia các liên hoan phim và thắng các giải thưởng khác nhau như ba giải: Phim hoạt hình xuất sắc nhất, Nhân vật nữ chính xuất sắc nhất và Nhạc chủ đề hay nhất tại Anime Grand Prix lần thứ 1. Ngoài ra phim còn có được nhiều giải thưởng và đề cử ở nhiều liên hoan phim khác như Kinema Junpo, Mainichi, lễ trao giải viện hàn lâm Nhật Bản…

Nét đặc biệt: Kiki’s delivery service, tên tiếng Nhật là Majo no Takkyubin được xây dựng từ nguyên tác của nhà văn Eiko Kadono, người đã chia sẻ rằng Kiki là “phù thủy với những nốt nhạc bay vòng quanh” trong bức tranh do con gái cô đã vẽ. “Nhân vật Kiki khoảng bằng tuổi con gái tôi vào lúc đó, độ tuổi khi đã qua thơ ấu và chưa thành người lớn. Cô bé bắt đầu cuộc sống tự lập và đã bay với phép màu của chính mình”, nhà văn Kadono chia sẻ trên tờ Asahi Shimbun.

Có thể thấy hình tượng nhân vật Kiki là một trong những điểm sáng của bộ phim, đại diện của thiếu niên độ tuổi bắt đầu trưởng thành với nhiều nhạy cảm, nhiều điều về bản thân cần khám phá, nhiều niềm tin bị lung lay rồi dần được củng cố,.. những điều mà tất cả chúng ta đều có thể liên hệ được.

Trái ngược với những bộ phim khác đem những yếu tố kì ảo vào làm sắc màu cho cuộc sống thực, Kiki’s delivery service lại tạo sự thú vị bằng cách đưa nhân vật kì ảo vào cuộc sống một cách rất gần gũi và thực tế. Bộ phim cũng là tiếng nói sâu sắc về nữ quyền: mô tả quá trình trưởng thành, đề cao sự độc lập, mạnh mẽ của nữ giới, đồng thời đem tới thông điệp về sự bình đẳng giữa các cá nhân và chức năng riêng của họ trong xã hội. 

Có thể bạn sẽ thích:


KẾT

Có thể thấy năm bộ phim đều có một điểm chung: tính kì ảo xen lẫn hiện thực, điều đã trở thành đặc sắc điển hình nhất cho phong cách của Ghibli. Ngoài ra các sản phẩm hoạt hình của studio nổi tiếng này đều hoàn toàn được vẽ tay, đem lại sự mềm mại, tinh tế và giản đơn cho từng thước phim. Bởi vậy nếu bạn là người yêu thích tất cả những vẻ đẹp này, đừng ngại ngần mà đắm chìm vào thế giới siêu thực của Ghibli nhé!

Japankuru Team

Bình luận

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *